Đoàn Luật Sư Đồng Nai

Đoàn Luật Sư Đồng Nai

Đoàn Luật Sư Đồng Nai

Lý Tưởng Cao Cả Của Giới Luật Sư Là Phấn Đấu Vì Công Lý và Lẽ Công Bằng Xã Hội
401 Đường 30/4, P.Quyết Thắng, TP.Biên Hoà, Đồng Nai dlsdongnai@gmail.com
BẢN BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO NGUYỄN VĂN XEM

"Hiện nay, nhiều cán bộ ngân hàng bị truy tố và xét xử về tội "Vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng". Văn phòng Đoàn vừa nhận được Bài bào chữa của Luật sư Trịnh Minh Tân, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Xem, nguyên Phó giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Sóc Trăng. Chúng tôi đăng nguyên văn để các đồng nghiệp tham khảo"

BẢN BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO NGUYỄN VĂN XEM

 

(phiên tòa ST HS – TAND tỉnh Sóc Trăng từ ngày 20 à 30/7/2015)

 

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Thưa đại diện VKS ND tỉnh Sóc Trăng

Tôi là luật sư Trịnh Minh Tân – là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Xem, bị VKSND Tối cao truy tố về tội: “Tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” theo khoản 3 Điều 179 Bộ luật hình sự.

Sau khi đã nghe lời luận tội của vị đại diện VKSND tỉnh Sóc Trăng thực hành quyền công tố tại phiên tòa này, trên cơ sở các tài liệu trong hồ sơ vụ án, qua theo dõi và tham gia thẩm vấn tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Văn Xem và các bị cáo liên quan; quy chiếu các sự kiện pháp lý với các văn bản QPPL, quy chế và các văn bản của Hội đồng quản lý và Tổng giám đốc Ngân hàng phát triển Việt Nam về tín dụng xuất khẩu. Tôi xin trình bày lời bào chữa cho thân chủ tôi là bị cáo Nguyễn Văn Xem, hầu mong HĐXX cân nhắc, xem xét một cách khách quan các tình tiết của vụ án, hành vi cụ thể và nhân thân của bị cáo Nguyễn Văn Xem khi nghị bàn về tội danh và lượng hình đối với thân chủ tôi.

Để có một cái nhìn tổng thể, từ đó liên hệ đến trách nhiệm của bị cáo Nguyễn Văn Xem trong vụ án này, tôi được trình bày như sau:

1.    Quan hệ tín dụng giữa VDB Sóc Trăng và CTy Cổ phần Chế biến Thực phẩm Phương Nam với việc ký kết & thực hiện Hợp đồng tín dụng xuất khẩu số 05/2011/HĐXKHM-NHPTPC ngày 22/4/2011

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (viết tắt NHPT VN) được thành lập bởi Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở tổ chức lại Quỹ hỗ trợ phát triển (thành lập năm 1999), tên giao dịch quốc tế viết tắt là VDB (The Vietnam Development Bank). Ngày 01/07/2006, Tổng giám đốc VDB có Quyết định số 03/QĐ-NHPT về việc thành lập 59 Chi nhánh Ngân hàng phát triển và 2 Chi nhánh Ngân hàng Phát triển khu vực trên cơ sở tổ chức lại các Chi nhánh Quỹ hỗ trợ Phát triển tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó có VDB Sóc Trăng. VDB Sóc Trăng là đơn vị kế thừa của Cục đầu tư phát triển tỉnh Sóc Trăng và sau đó là Quỹ hỗ trợ phát triển tỉnh Sóc Trăng, cả ba thời kỳ với các tên gọi khác nhau đều do ông Nguyễn Thế Thắng làm giám đốc, ông Nguyễn Văn Xem làm Phó giám đốc.

Căn cứ Điều 1 Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Phát triển được thành lập nhằm mục đích thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu. Trước những khó khăn về vốn của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập trong xu thế phát triển nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư và xuất khẩu hàng hóa trong nước sản xuất, Ngân hàng Phát triển là địa chỉ quan trọng cho các doanh nghiệp cần vốn đầu tư và sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, đặc biệt hàng xuất khẩu là mặt hàng thủy sản, trong đó tôm nuôi là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực.

          Công ty TNHH Phương Nam được thành lập từ ngày 08/01/1998. Đến 24/10/2010 chuyển đổi thành công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm Phương Nam (từ đây gọi tắt là Cty Phương Nam), đã có quan hệ giao dịch tín dụng xuất khẩu với Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Sóc Trăng (từ đây gọi tắt là NHPT STr hoặc VDB Sóc Trăng) từ năm 1999, khi mà CN NHPT STr còn là Chi nhánh Quỹ hỗ trợ Phát triển Sóc Trăng [BL. 4506].

Do đó có thể khẳng định, Cty Phương Nam là khách hàng truyền thống của NHPT STr từ năm 1999 đến ngày Cơ quan CSĐT khởi tố vụ án hình sự.

Theo cáo trạng số 04/VKSTC-V1B ngày 11/6/2015 của VKSND Tối cao, từ ngày 12/3/2008 đến ngày 24/4/2011, Nguyễn Thế Thắng, Giám đốc CN NHPT STr ký tổng cộng 06 Hợp đồng tín dụng cho Công ty Phương Nam, đại diện là Lâm Ngọc Khuân, Lâm Ngọc Hân vay tổng cộng 1.870 tỷ đồng. Tài sản thế chấp là động sản và bất động sản bằng 15 – 30% trên tổng dư nợ, số còn lại được đảm bảo bằng hàng hóa thành phẩm tồn kho (tôm đông lạnh). Cáo trạng ghi: “Khi ký kết và thực hiện các hợp đồng tín dụng, VDB Sóc Trăng đều có các vi phạm quy định về cho vay, nhưng 5 hợp đồng đầu đã được tất toán. Riêng Hợp đồng thứ 6: Số 05/2011/HĐXKHM-NHPTPC ngày 22/4/2011 còn dư nợ không có khả năng thu hồi vốn vay.” [Tr. 7, 8 CT] 

Cáo trạng đưa ra thông tin là “khi ký kết và thực hiện các hợp đồng tín dụng, VDB Sóc Trăng đều có các vi phạm quy định về cho vay, nhưng 5 hợp đồng đầu đều đã được tất toán”, nhưng cáo trạng không chỉ ra 5 hợp đồng đã tất toán có những vi phạm gì (?!), trong khi thực tế là 5 hợp đồng đó đã tất toán, Cty Phương Nam không còn nợ VDB Sóc Trăng, nên cho dù có vi phạm ở điểm nào đó (mà cáo trạng chưa chỉ ra được) thì 5 hợp đồng tín dụng xuất khẩu đó đều đã làm lợi cho cả 2 pháp nhân là bên vay và bên cho vay là Cty Phương Nam và VDB Sóc Trăng cho đến khi ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng hạn mức số 05/2011/HĐXKHM-NHPTPC.

Tại trang 12, cáo trạng quy buộc các bị cáo ở VDB Sóc Trăng “vi phạm Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước quy định tại khoản 4 Điều 7 về điều kiện cho vay. Cáo buộc này của cáo trạng là không đúng, vì khoản 4 Điều 7 Nghị định số 151/2006/NĐ-CP quy định: “Chủ đầu tư có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trả được nợ; được Ngân hàng Phát triển Việt Nam thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ và chấp thuận cho vay”. Quy định này là áp dụng cho vay đầu tư tại chương 2 Nghị định 151/2006/NĐ-CP, VDB Sóc Trăng cho Công ty Phương Nam vay theo Hợp đồng 05/2011/HĐTDXKHM-NHPT là hợp đồng tín dụng xuất khẩu hạn mức (TDXKHM)  quy định tại chương 3 của Nghị định 151/2006-CP ngày 20/12/2006 chứ không phải như cáo trạng đã viên dẫn. Khoản 2 Điều 22 chương 3 Nghị định này quy định về điều kiện cho vay tín dụng xuất khẩu là: “Nhà xuất khẩu đã ký kết hợp đồng xuất khẩu.”. Việc viện dẫn sai quy định trong văn bản quy phạm pháp luật nêu trên để áp dụng cho hành vi của các bị cáo nguyên là cán bộ VDB Sóc Trăng sẽ dẫn đến việc nhận định và đánh giá tính chất của hành vi không đúng, làm xấu đi tình trạng của các bị cáo. Làm sao có thể viện dẫn quy định của văn bản quy phạm pháp luật áp dụng cho trường hợp cho vay đầu tư vào trường hợp cho vay xuất khẩu, theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia” để buộc tội?

Cũng tại trang 12 (và trang 42), cáo trạng quy kết VDB Sóc Trăng và bị cáo Nguyễn Văn Xem“không kiểm tra đối chiếu sổ phụ ngân hàng”. Quy buộc này liệu có thỏa đáng khi mà cáo trạng không viện dẫn văn bản quy phạm pháp luật nào hoặc văn bản nào của NHPT VN quy định các chi nhánh NHPT phải kiểm tra sổ phụ ngân hàng của khách hàng vay ở các ngân hàng khác?

Ở thời điểm VDB Sóc Trăng ký hợp đồng TDXK hạn mức số 05/2011/HĐXKHM-NHPTPC cho Công ty Phương Nam vay thì Công ty Phương Nam chưa ký hợp đồng vay của các ngân hàng khác mà cáo trạng đã quy buộc là hành vi lừa đảo, tức Công ty Phương Nam chưa có giao dịch vay với ngân hàng khác, chưa có nghiệp vụ ngân hàng phát sinh thì lấy đâu ra sổ phụ của ngân hàng khác? Mà các ngân hàng mà Cty Phương Nam giao dịch tín dụng (ngoài VDB Sóc Trăng) thì đều là Ngân hàng Thương mại. Việc vay vốn ở các NHTM không phải như ở VDB, bởi vay ở NHTM chắc chắn Cty Phương Nam phải chứng minh có tài sản thế chấp và tài sản thế chấp đó phải có giá trị lớn hơn số tiền vay.

Sổ phụ ngân hàng (còn gọi là sổ phụ tài khoản) là loại sổ kế toán chi tiết theo dõi từng tài khoản của khách hàng có quan hệ giao dịch với ngân hàng; sổ này thể hiện chi tiết các nghiệp vụ phát sinh về tiền gửi, tiền vay, lãi tiền gửi... tiền nhập và xuất khỏi tài khoản của khách hàng, số dư cuối kỳ.... Khi cần thiết để đối chiếu với ngân hàng, khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng in ra giấy sổ phụ này.

Thời điểm mà Công ty Phương Nam giao dịch với các ngân hàng khác được thể hiện như sau:

Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – Sở giao dịch Hậu Giang

Ngân hàng TMCP Thương tín (Sacombank) chi nhánh Sóc Trăng:

Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh Bạc Liêu (ABBank Bạc Liêu)

Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam chi nhánh Sóc Trăng (Vietcombank):

Như vậy, đối với Hợp đồng TDXK hạn mức số 05/2011/HĐXKHM-NHPTPC ký ngày ngày 22/4/2011, giả sử có quy định khi ký và thực hiện việc giải ngân cho hợp đồng này, VDB Sóc Trăng phải kiểm tra sổ phụ ngân hàng của các ngân hàng khác giao dịch với Cty Phương Nam thì cũng không thể có (trừ những trường hợp đã vay các NHTM trước đó)

Ngân hàng Phát triển Việt Nam là tổ chức tín dụng duy nhất thực hiện hoạt động tín dụng xuất khẩu của Nhà nước với những quy định nới lỏng về thủ tục, nhưng chặt chẽ về đối tượng cho vay do hoạt động TDXK của Nhà nước có những đặc điểm sau:

+ Hoạt động tín dụng xuất khẩu của Nhà nước không vì mục tiêu lợi nhuận mà là nhằm hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân tham gia sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu để có điều  kiện đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ, giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

+ Nguồn vốn cho vay TDXK thuộc nguồn vốn tín dụng Nhà nước do Chính phủ bố trí giao kế hoạch. Hàng năm căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế -  xã hội, Nhà nước bố trí một mức vốn nhất định đề dành cho hoạt động TDXK;

+ Cơ chế cho vay vốn ưu đãi hơn hình thức cho vay thông thường như  ưu  đãi về lãi suất, bảo hiểm tiền vay, … Lãi suất cho vay là lãi suất ưu đãi thường thấp hơn lãi xuất cho vay của các NHTM, với mục đích hỗ trợ cho doanh nghiệp có điều kiện giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu.

+ Vì cho vay với lãi suất ưu đãi nên hàng năm được Ngân sách Nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay đầu ra và đầu vào.

+ Về bảo đảm tiền vay, khi vay vốn tại NHTM doanh nghiệp phải thế chấp tài sản và giá trị thế chấp thường cao hơn giá trị khoản vay. TDXK có tính chất hỗ trợ ưu đãi của Nhà nước nên đòi hỏi về bảo đảm tiền vay cũng có tính hỗ trợ không khắt khe như  yêu cầu bảo đảm tiền vay tại các NHTM.

+ Đối tượng được vay vốn TDXK của Nhà nước hạn chế so với đối tượng cho vay của các NHTM. Đối tượng vay vốn TDXK của Nhà nước phải có hợp đồng xuất khẩu đối với nhà xuất khẩu và thuộc danh mục mặt hàng được Nhà nước quy định khuyến khích xuất khẩu.

          Tại công văn số 1462/NHPT-TDXK ngày 09/4/2011 của TGĐ NHPT Việt Nam hướng dẫn một số nội dung về TDXK, tại điểm 1.3 khoản 1 có ghi: “Đối với khách hàng đang có quan hệ TDXK với NHPT, sau khi duyệt giới hạn tín dụng, Chi nhánh thực hiện như sau:

- Trường hợp dư nợ hiện tại nhỏ hơn giới hạn tín dụng của khách hàng: Chi nhánh thực hiện biện pháp cần thiết để tăng dư nợ đối với nhóm khách hàng có năng lực thực hiện xuất khẩu tốt, tình hình tài chính tốt và uy tín tín dụng.

- Trường hợp dư nợ hiện tại bằng giới hạn tín dụng của khách hàng: Lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, duy trì quan hệ với khách hàng.”

Khoản 2 của văn bản này quy định: “Trong giai đoạn hiện nay, NHPT tập trung vốn cho vay đối với các mặt hàng: thủy sản, cà phê, hạt điều đã qua chế biến…”.

Những nội dung trên cho thấy áp lực cho vay để tăng dư nợ là rất lớn với mục tiêu đẩy mạnh hàng xuất khẩu, đặc biệt là mặt hàng thủy sản. Hợp đồng 05/2011/ HĐXKHM-NHPT-PC ngày 22/4/2011 giữa NHPT chi nhánh Sóc Trăng và Cty Phương Nam được ký kết trong bối cảnh đó.

Đối với hợp đồng số 05/2011/HĐXKHM-NHPTPC ngày 22/4/2011 còn dư nợ, theo cáo trạng kết luận là không có khả năng thu hồi vốn vay. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án và cáo trạng chưa xác định tổng giá trị tài sản hiện có của Công ty Phương Nam. Việc định giá mới chỉ dừng lại ở các tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay, chưa định giá toàn bộ tài sản của công ty Phương Nam cũng như giá trị thương hiệu mà Công ty Phương Nam đã có.

Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh từ thời điểm năm 1999 cho đến trước khi hợp đồng tín dụng xuất khẩu hạn mức số 05/2011 được ký kết và thực hiện thì cả VDB Sóc Trăng và Cty Phương Nam đều hoàn thành và hợp đồng được tất toán. Đây là cơ sở để xác định Cty Phương Nam là khách hàng truyền thống và có uy tín của VDB Sóc Trăng, ở thời điểm ký kết hợp đồng TDXK hạn mức số 05/2011... Cty không có nợ xấu ở VDV Sóc Trăng. Chính vì vậy mà từ năm 1999 cho đến khi Hợp đồng tín dụng 05/2011 được ký kết và giải ngân, VDB Sóc Trăng vẫn tin tưởng Cty Phương Nam là doanh nghiệp có trách nhiệm đối với các khoản vay.

Việc chủ doanh nghiệp là Lâm Ngọc Khuân và Lâm Ngọc Hân bỏ đi nước ngoài trốn nợ làm cho các chủ nợ không có điều kiện để cân đối giữa các các khoản nợ với tài sản thực có của doanh nghiệp ngoài tài sản thế chấp bảo đảm đảm tiền vay. Khác với các với chủ nợ là các NHTM mà tài sản thế chấp của khách hàng phải có giá trị lớn hơn số tiền khách hàng vay. Nhưng đối với NHPT, vì chính sách cho vay mang tính đặc thù, ưu đãi đối với nhà xuất khẩu, tài sản thế chấp, bảo đảm tiền vay ngoài tài sản thế chấp bằng 15% giá trị hợp đồng TDXK hạn mức, các tài sản có giá trị lớn thì thường là hàng hóa hình thành từ vốn vay, trong khi giá cả hàng hóa lại không ổn định.

Hiện nay, với thương hiệu Công ty Cổ Phần Chế Biến Thực phẩm Phương Nam, các chủ mới của Công ty vẫn đang tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này cho thấy, những chủ mới phải là những doanh nhân hiểu biết về giá trị tài sản (động sản & bất động sản), giá trị về thương hiệu, năng lực sản xuất kinh doanh và lao động lành nghề của Công ty Phương Nam thì mới dám bơm tiền vào để doanh nghiệp này tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đứng trước khoản nợ vay vốn của các NHTM quá lớn, mà việc vay là do khai khống tài sản thế chấp, khai cả tài sản đã thế chấp cho VDB Sóc Trăng làm tài sản thế chấp cho các NHTM, Lâm Ngọc Khuân và Lâm Ngọc Hân đã hoảng loạn, không biết xử lý như thế nào nên đã đi ra nước ngoài trốn nợ là hệ lụy chủ yếu đưa các cán bộ của VDB Sóc Trăng vào vòng quay tố tụng. Việc bỏ trốn của chủ doanh nghiệp đã làm cho việc cân đối tài sản của doanh nghiệp với vốn vay TDXK của VDB Sóc Trăng không thể thực hiện được để thu hồi vốn vay. Trong khi các NHTM được phép tái cơ cấu doanh nghiệp con nợ thì theo quy định, NHPT không được phép.

Việc Lâm Ngọc Khuân và Lâm Ngọc Hân và những người liên quan có hành vi gian dối để vay tiền từ các ngân NHTM xảy ra sau khi HĐ 05/2011 được ký kết. Vì vậy, dù cho tài sản thế chấp của cty Phương Nam được định giá có thấp hơn trên 100 tỷ đồng so với hạn mức vay 380 tỷ đồng thì số tiền cty Phương Nam nợ VDB Sóc Trăng nếu được thu hồi ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án thì thiệt hại sẽ giảm thiểu rất nhiều chứ không phải như cách tính thiệt hại như cáo trạng đã nêu.

2.    Quy trình ký kết hợp đồng TDXK hạn mức số 05/2011/HĐXKHM - NHPTPC ngày 22/4/2011 và vai trò, trách nhiệm của bị cáo Nguyễn Văn Xem trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng này.

+ Về quy trình duyệt Tờ trình duyệt vay và ký hợp đồng tín dụng xuất khẩu

Công văn số 86/NHPT.STR-HCNS ngày 11/02/2011 của Giám đốc Chi nhánh NHPT Sóc Trăng gửi NHPT VN v/v phân công nhiệm vụ trong Ban gián đốc: “1/ Phó giám đốc Nguyễn Văn Xem: Giúp việc cho Giám đốc và trực tiếp phụ trách chỉ đạo các lĩnh vực công tác sau: + Công tác cho vay vốn TD.ĐTPT của Nhà nước; + Công tác tín dụng xuất khẩu..... + Một số công việc cụ thể theo sự ủy quyền của Giám đốc Chi nhánh” [BL5083]

          Theo nội dung trên, bị cáo Nguyễn Văn Xem là người trực tiếp phụ trách quy trình ký kết và thực hiện các hợp đồng TDXK như đã được phân công. Trên thực tế, bị cáo Nguyễn Văn Xem đã ký nhiều hợp đồng TDXK với Công ty Phương Nam, tham gia góp ý vào dự thảo tờ trình cho vay và dự thảo hợp đồng TDXK giữa VDB Sóc Trăng và Công ty Phương Nam. Các quy trình dự thảo và thẩm duyệt được VDB Sóc Trăng thực hiện trên mạng thông qua phần mềm Lotus Notes. Cụ thể: mỗi một cán bộ trong ngân hàng Phát triển (trừ bảo vệ, lái xe, tạp vụ) đều được cấp một user và password (mật khẩu) riêng để đăng nhập vào hệ thống mạng nội bộ Lotus Notes. Khi đăng nhập vào hệ thống cán bộ có thể gửi và nhận các văn bản, tài liệu đi và đến từ các cán bộ khác. Theo đó, việc trình ký cũng được cán bộ tiến hành bằng cách gửi văn bản cho cấp trên, cấp trên chỉ cần đăng nhập vào hệ thống sẽ nhận được văn bản đó. Sau khi đã thống nhất, cấp trên tiến hành gửi văn bản lại cho cán bộ để cán bộ chỉnh sửa theo ý kiến cấp trên (nếu có) hoặc in ra trình giám đốc ký phát hành, kết thúc qui trình trình ký.

          Lotus Notes là hệ thống có tính an toàn và bảo mật rất cao. Các tài liệu trong Lotus Notes tùy theo nhu cầu mà có thể được mã hóa từ toàn bộ cho đến từng trường. Lotus Notes hạn chế đến mức tối đa sự truy nhập trái phép vào hệ thống thông tin do Lotus Notes lưu giữ. Quyền truy nhập cũng chia ra làm nhiều mức khác nhau: người quản lý, người thiết kế, người sửa đổi, người đọc, và người không có quyền hạn gì. Điều này cho thấy, mọi hoạt động tác nghiệp tại VDB Sóc Trăng trên Lotus Notes đều được lưu giữ và bảo mật. Do đó, lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Xem về việc không tham gia duyệt dự thảo Tờ trình duyệt vay 380 tỷ đồng trước khi hợp đồng TDXK hạn mức số 05/2011/HĐXKHM - NHPTPC ngày 22/4/2011 được ký kết là chính xác, được chứng minh cụ thể trên lịch làm việc và hoạt động trên phần mềm Lotus Notes. Bị cáo Vũ Văn Quang xác nhận: “tôi (Quang) là người chuyển file cho anh Xem trên máy vi tính, nhưng anh Xem nghỉ phép, nên chị Ngân chuyển file cho anh Nhã, và anh Nhã chuyển file cho anh Thắng giám đốc chi nhánh để xin ý kiến, vì thời gian thẩm định ngắn (chỉ có 7 ngày làm việc) nên không chờ ý kiến của anh Xem được và anh Thắng đã đồng ý với tờ trình duyệt vay, và tờ trình duyệt vay đã được anh Thắng Giám đốc CN VDB Sóc Trăng ký ngày 09/03/2011, số 144/NHPT-STR-TD và gửi Ngân hàng phát triển Việt Nam cùng ngày để t&aa

Chia sẻ:
Bài viết khác:
Go Top
Zalo