Đoàn Luật Sư Đồng Nai

Đoàn Luật Sư Đồng Nai

Đoàn Luật Sư Đồng Nai

Lý Tưởng Cao Cả Của Giới Luật Sư Là Phấn Đấu Vì Công Lý và Lẽ Công Bằng Xã Hội
401 Đường 30/4, P.Quyết Thắng, TP.Biên Hoà, Đồng Nai dlsdongnai@gmail.com
BÀI BÀO CHỮA CHO PHẠM CÔNG DANH TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM

LGT: Quan điểm của Luật sư Nguyễn Văn Trung cùng với 4 luật sư đồng nghiệp bào chữa cho bị cáo Phạm Công Danh có yêu cầu kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân TP.HCM.
Trang Web Đoàn Luật sư xin giới thiệu lại toàn văn bài phát biểu bảo vệ quyền lợi cho bị cáo Phạm Công Danh để các đồng nghiệp nhất là các đồng nghiệp trẻ và các tập sự hành nghề luật sư tham khảo”.

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Kính thưa hai vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM,

Thưa Quý luật sư đồng nghiệp,

Tôi, Luật sư Nguyễn Văn Trung thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM, cùng với 4 luật sư đồng nghiệp bào chữa cho bị cáo Phạm Công Danh có yêu cầu kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân TP.HCM. Tiếp theo phần bào chữa của Luật sư Trần Minh Hải, tôi xin trình bày quan điểm bào chữa của tôi như sau:

Trước hết, tôi vô cùng xúc động và cảm kích hai vị đại diện VKSND cấp cao tại TP. HCM trong suốt quá trình xét hỏi và đã đưa ra Bản kết luận tại phiên tòa hôm nay hết sức công phu, chặt chẽ, nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ mà mục đích cuối cùng là xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội!

 I/-Về căn cứ áp dụng pháp luật:

Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016, về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, tại Điều 1 khoản 4 điểm a quy định: “kể từ ngày 01-7-2016 thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật hình sự; tiếp tục áp dụng khỏan 2 Điều 1 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số 109/2015/QH13”.

Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 quy định: Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt…, lọai trừ trách nhiệm hình sự… và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.

Điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13, về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015, quy định: “Các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, xóa bỏ một hình phạt…. và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0g00 ngày 01-7-2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xỏa án tích”.

Căn cứ các quy định nêu trên, chúng tôi đề nghị Quý Tòa áp dụng đối với tội danh “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trong”. Tội danh mà án sơ thẩm quy kết cho bị cáo Phạm Công Danh, vì nghững lý do sau đây:

Bộ luật hình sự 1985 (đã được sửa đổi bổ sung năm 1989, 1991, 1992 và 1997) chỉ quy định 1 tội danh chung cho các hành vi “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiệm trọng” tại Điều 174, không có tôi danh “vi phạm quy định về cho vay trong họat động của các tổ chức tín dụng”. Hành vi vi phạm này thu hút vào tội danh “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trong ” và bị xử lý theo Điều 174.

Đến Bộ luật hình sự 1999, nhằm cá thể hóa một bước tội phạm và và hình phạt, phục vụ yêu cầu phòng chống tội phạm kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng thời điểm đó, tội phạm cố ý làm trái vẫn duy trì tại Điều 165, nhưng hành vi vi phạm quy định về cho vay trong họat động của các tổ chức tín dụng được tách ra xử lý bằng 1 tội danh riêng theo Điều 179.

Đến Bộ luật hình sự 2015, đã xóa bỏ tội phạm “cố ý làm trái quy định….” Thay vào đó đã cá thể hóa tội phạm và hình phạt một cách toàn diện bằng bổ sung các tội danh có các yếu tố cấu thành cụ thể cho từng tội phạm. Đối với tội danh “vi phạm quy định về cho vay trong họat động của các tổ chức tín dụng” theo quy định tại Điều 179-Bộ luật hình sự 1999, được thay thế bằng tội “vi phạm quy định trong họat động của các tổ chức tín dụng” tại Điều 206 Bộ luật hình sự 2015.

Vì vậy, căn cứ điểm 2 Điều 107 và Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 của Quốc Hội.

 II/-Về tên gọi “Nhóm Trần Ngọc Bích”, “Nhóm Dr Thanh”:

Tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa cho biết Trần Ngọc Bích có đơn đề nghị không dùng từ “Nhóm Trần Ngọc Bích” “Nhóm Dr Thanh” và ông Trần Quí Thanh “không hài lòng” gọi nhóm “Trần Quí Thanh” nên đề nghị không gọi “Nhóm Trần Quí Thanh’ hoặc “Nhóm Trần Ngọc Bích”!

Chúng tôi nhận thấy, trong vụ án này, Bản kết luận điều tra đã xác định rõ có 3 nhóm: “Nhóm Phú Mỹ”, “Nhóm tập đoàn Thiên Thanh” và “Nhóm Dr Thanh”. Cáo trạng thay “Nhóm Dr Thanh” bằng “Nhóm Trần Ngọc Bích”. Trong đơn kháng cáo và đơn kêu cứu ngày 28-7-2016, Bà Trần Ngọc Bích đã sử dụng từ “nhóm chúng tôi”, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 04-01-2017 các luật sư của ông Trần Quí Thanh và bà Trần Ngọc Bích cũng sử dụng từ “Nhóm bà Trần Ngọc Bích”. Tại trang 5 “Đơn kêu cứu” đề ngày 28-7-2016, bà Trần Ngọc Bích xác nhận: “Toàn bộ số tiền đang bị kê biên là tài sản tích lũy của chúng tôi qua hơn 20 năm kinh doanh hợp pháp. Chúng tôi đã tạo ra những thương hiệu sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam cạnh tranh thành công với các thương hiệu lớn của thế giới”. Bà Bích sinh năm 1984, tài sản tích lũy hơn 20 năm, thương hiệu “Dr Thanh-Tân Hiệp Phát” chắc chắn không phải do bà Bích tạo nên.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng gọi “Nhóm Dr Thanh”, hay sử dụng đúng ngôn ngữ tiếng Việt là “Nhóm Trần Quí Thanh” như kết luận điều tra là chính xác, nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, tòan diện và đầy đủ.

 III/-Về hành vi và hậu quả thiệt hại:

1/-Về phạm vi trách nhiệm của Phạm Công Danh:

Bản án sơ thẩm (cuối trang 134 đầu trang 135) cũng đã nhận xét: “Ngày 20-02-2013 tại giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Ngân hàng Đại Tín đăng ký thay đổi lần thứ 25 thể hiện bị cáo Danh là Chủ tịch HĐQT-đại diện pháp luật ngân hàng Đại Tín. Mặt khác, các hành vi cáo trạng VKSND tối cao truy tố về tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước vê quản lý kính tê gây hậu quả nghiêm trọng” đều xảy ra sau ngày 20-02-2013”. Đến ngày 28-12-2012 việc phê duyệt cho 2 Công ty Thịnh Quốc và Đại Hoàng Phương vay vẫn do HĐQT và Hội đồng tin dụng cũ của Ngân hàng Đại Tín quyết định.

Tính đến cuối tháng 12/2012, theo báo cáo tài chính của VNCB (đã kiểm toán), kết quả kinh doanh lỗ lũy kế 11.348,2tỷ, vốn chủ sở hữu âm 8.293,5tỷ đồng. Trách nhiệm này là thuộc HĐQT cũ của Ngân hàng Đại Tín. Rõ ràng tại thời điểm cuối năm 2012, trước khi bị cáo Danh đảm nhận chức vụ Chủ tịch NHĐT, thì VNCB chẳng những đã mất hết vốn điều lệ mà giá trị cổ phần của VNCB đã bị âm gần 20.000đ/cổ phần. Trong tình hình như vậy, đáng lý ra phải mua 0 đồng/cổ phần. Vậy mà Phạm Công Danh và tập đòan Thiên Thanh lại dám đứng ra mua lại Ngân hàng Đại Tín với giá 4.619,61tỷ đồng, đồng thời ra sức huy động toàn bộ vốn liếng, tài sản cá nhân, gia đình và của Tập đòan Thiên Thanh, phải vay nóng trả lãi ngòai cắt cổ đổ vào Ngân hàng Đại Tín gần 10.000tỷ đồng, nhằm đảm bảo thanh khoản, duy trì họat động của 112 đơn vị, bao gồm Hội sở, 1 Sở giao dịch, 21 chi nhánh, 76 Phòng giao dịch, 12 Quỹ tiết kiệm và 01 điểm giao dịch, ổn định đời sống của 1.418 cán bộ nhân viên trong cả nước. Để rồi chỉ hơn 2 năm sau, ngày 05-3-2015 Ngân hàng Nhà nước mua bắt buộc VNCB với giá 0đồng/cổ phần, đổi tên là CB, được kế thừa tòan quyền đòi nợ của VNCB, quản lý tòan bộ tài sản đang thế chấp tại VNCB để thu hồi nợ. Gần 2 năm sau ngày mua lại 0đồng/cổ phần, mới đây Ngân hàng Nhà nước vừa công bố mục tiêu trong năm 2017 là tập trung xử lý 5 ngân hàng yếu kém trong đó có CB! Phải chi Ngân hàng Nhà nước ra tay mua lại 0đồng/cồ phần ngay từ cuối năm 2012, sau khi có kết luận thanh tra và Báo cáo tài chính 2012, thì đến nay CB có lẽ đã họat động ổn định, vụ án Phạm Công Danh đã không xảy ra và những người đứng trước vành móng ngựa hôm nay nếu có, cũng không phải là các bị cáo này!

Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam (VNCB) là thuộc quyền sở hữu của Tập Đòan Thiên Thanh và một số cá nhận do Phạm Công Danh làm đại diện. Họat động của VNCB đặt dưới sự giám sát chặc chẽ của Tổ Giám sát Ngân hàng Nhà nước. Tài sản của VNCB và các tài sản VNCB nhận thế chấp để đảm bảo nợ vay vẫn còn nguyên vẹn đó. Vậy thì căn cứ vào đâu để kết luận Phạm Công Danh gây thiệt hại cho VNCB 9.000 tỷ đồng? Mà nếu VNCB bị thiệt hại thì rõ ràng Tập Đoàn Thiên Thanh, cá nhân Phạm Công Danh và 12 công ty có tài sản thê chấp tại VNCB mới chính là người phải gánh chịu hậu quả và bị thiệt hại trước hết!

2/-Về hành vi “vi phạm các quy định cho vay”:

Về các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội “vi phạm các quy định cho vay” luật sư đồng nghiệp của chúng tôi đã trình bày chi tiết, đầy đủ. Tôi chỉ trình bày phần định giá tài sản thế chấp và hậu quả khắc phục thiệt hại.

        a/-Về định giá tài sản thế chấp:

        Bản án sơ thẩm (tại trang 147 và 148) nhận định:

        -Về chứng thư thẩm định giá của Công ty DATC Bộ Tài Chính xác định giá trị của các lô đất là 10.414,686tỷ đồng, mức giá mà chứng thư đưa ra là hoàn toàn dựa trên các thông số giả định khi hoàn thành dự án. Tuy nhiên, về thực tế thì dự án này chưa được thông qua, chưa được triển khai nên các thông số giả định mà chứng thư đưa ra là chưa bảo đảm do đó chưa đủ cơ sở để xem xét là chính xác.

        -Về kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP Đà Nẳng, mức giá mà kết luận định giá chỉ dựa trên bảng giá đất do UBND TP Đà Nẳng ban hành mà không kết hợp với các thông số khác là chưa khách quan, không theo sát giá thị trường. Do đó, Hội đồng xét xử không thể áp dụng kết luận định giá này để xác định hậu quả của vụ án.

        -Về chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần thông tin và thẩm định giá Miền Nam (SIVC) xác định giá trị 2.604.070.562.200đồng, phương pháp thẩm định là phương pháp so sánh, mức giá mà chứng thư đưa ra có tham khảo đầy đủ các thông số với mức giá thị trường cao hơn mức giá theo kết luận định giá của Hội đồng thẩm định giá trong tố tụng hình sự TP Đà Nẵng.

Từ những phân tích trên để đảm bảo nguyên tắc có lợi nhất cho các bị cáo Hội đồng xét xử chấp nhận sử dụng chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần thông tin và thẩm định giá Miền Nam làm cơ sở xác định hậu quả của vụ án như truy tồ của VKSNDTC là có căn cứ”. Án sơ thẩm kết luận: “Phạm Công Danh đã thông qua các công ty do bị cáo thành lập đi vay tiền của Ngân hàng VNCB để sử dụng trái phép (rút trái pháp luật) khỏan tiền 4.700tỷ đồng của Ngân hàng VNCB nhưng do có tài sản đảm bảo cho các khỏan vay này nên được xem xét đổi trừ và bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền là 2.095tỷ đồng”. Chúng tôi xin có ý kiến như sau:

Theo quy định tại các Điều 336, 338 và 355 Bộ Luật Dân sự; Điều 56 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; khỏan 1 Điều 25 Quy chế cho vay 1627 của Ngân hàng Nhà nước: Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà bên có nghĩa vụ trả nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận thì TSTC được xử lý theo phương thức do các bên thỏa thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ. Tiền bán TSTC được ưu tiên thanh toán cho bên nhận thế chấp, nếu còn thừa thì phải trả lại cho bên thế chấp, nếu còn thiếu thì bên thế chấp phải trả tiếp phần còn thiếu.

Tài sản thế chấp cho các khoản vay theo quy định tại các khỏan vay là “Quyền sử dụng đất Dự án khu phức hợp dịch vụ thương mại cao tầng tại khu vực Sân vận động Chi Lăng, Hải Châu II, quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẳng”, đã được cấp giấy CNQSD đất và đăng ký giao dịch bảo đảm hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Thời điểm cho vay, theo chứng thư thẩm định giá ngày 24-12-2012 của Cty CP tư vấn, dịch vụ về tài sản, bất động sản DATC-Bộ Tài chính thì tổng giá trị quyền sử dụng đất là 10.414.687.000.000đồng.

Điều 115 Luật Đất đai quy định:

-Tư vấn xác định giá đất được thực hiện khi thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến giá trị đất cụ thể mà các bên có yêu cầu (điểm c khoản 1 Điều 115).

-Việc xác định giá đất của tư vấn xác định giá đất phải độc lập, khách quan, trung thực và tuân theo nguyên tắc, phương pháp định giá đất quy định tại Điều 112 của Luật này (khoản 3 Điều 115).

Điều 112 Luật Đất đai khỏan 1 quy định: Việc định giá đất đai bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

        a)Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá.

        b)Thời hạn sử dụng đất

        c)Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của lọai đất có cùng mục đích sử dụng.

Đối với các lô đất thế chấp, UBND TP Đà Nẳng đã có Quyết định số 6638/QĐ-UB ngày 06-9-2010 phê duyệt sơ đồ ranh giới sử dụng khu phức hợp thương mại dịch vụ cao tầng tại khu vực Sân vận động Chi Lăng.

Ngày 09-9-2010 UBND. TP. Đà Nẳng đã có Quyết định số 6836/QĐ-UBND thu hồi khu đất để thực hiện chủ trương xây dựng khu phức hợp thương mại dịch vụ cao tầng. Ngày 12-10-2010, Chủ tịch UBND. TP Đà Nẳng đã có văn bản số 6381/UBND-QLĐTH đồng ý cho phép Tập Đòan Thiên Thanh được đầu tư vào dự án khu phức hợp thương mại dịch vụ cao tầng tại khu vực Sân vận động Chi Lăng theo ranh giới sử dụng đất được UBND. Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 6638/QĐ-UBND ngày 06-9-2010. Ngày 20-01-2011, UBND TP. Đà Nẳng có Quyết định số 704/QĐ-UBND phê duyệt sơ đồ ranh giới chuyển quyền sử dụng đất khu phức hợp thương mại dịch vụ cao tầng tại khu vực Sân vận động Chi Lăng cho Cty TNHH Tập đòan Thiên Thanh. Mặc dù cùng ngày 13/9/2010, UBND TP Đà Nẵng đã ban hành 4 Quyết định (từ số 6966 đến số 6669/QĐ-UBND), về việc phê duyệt tỷ lệ quy hoạch chi tiết 1/500 các Khu tái định cư để thực hiện việc tái định cư cho các hộ giải tỏa giải phóng mặt bằng thuộc Khu vực dự án, nhưng thực tế chi phí đền bù giải tỏa di dời do Tập đoàn Thiên Thanh chi trả. Ngày 25/01/2011, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng đã có công văn số 482/UBND-ĐBGT nói rõ:

1.            Đồng ý chủ trương giữ lại nguyên trạng một số công trình hiện hữu trên khu vực đất dự án sau khi chi trả tiền đền bù để Cty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh sử dụng triển khai các khu vực chức năng như: Văn phòng làm việc của các Ban quản lý dự án, , Văn phòng giao dịch, kho nguyên vật liệu thi công, cụ thể:

a) Các khu nhà giáp 4 mặt tiền đường Hùng Vương- Ngô Gia Tự- Triệu Nữ Vương- Lê Duẫn (nằm trong khoảng lùi của công trình chính).

b) Một số công trình bên trong Sân vận động Chi Lăng (sẽ phá dỡ bỏ những hạng mục không cần thiết).

2. Yêu cầu Cty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh làm việc trực tiếp với UBND quận Hải Châu, Ban Giải tỏa đền bù các dự án ĐT-XD số 1, Công ty Quản lý và Khai thác đất Đà Nẵng  và các đơn vị liên quan:

a) Thống nhất xác định cụ thể các khu vực cần giữ lại để có kế hoạch bàn giao mặt bằng hợp lý.

b) Xác định giá trị hỗ trợ lại cho các chủ sử dụng thay vì tháo dỡ, tận thu tài sản; đồng thời có kế hoạch phân trách nhiệm cụ thể giữa chủ đầu tư và Hội đồng giải phóng mặt bằng dự án, báo cáo UBND Thành phố quyết định để có cơ sở triển khai thực hiện.

           Trong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư thì việc đền bù giải tỏa nhà phố cư dân, giải phóng mặt bằng là khâu căng thẳng nhất, tốn kém nhất! Đây lại là khu vực đắc địa Trung tâm thành phố với 4 mặt tiền trục đường chính. Vì vậy chi phí đền bù giải phóng mặt bằng đối với gần 100 hộ dân  4 mặt phố mà Tập đoàn Thiên Thanh đã phải bỏ ra hàng ngàn tỷ đồng, nhưng không thể hạch toán sổ sách.

  Ngày 28-01-2011, UBND TP. Đà Nẳng đã cấp 10 Giấy CNQSD đất cho 10 Cty thuộc Tập đoàn Thiên Thanh, Giấy CNQSD đất ghi rõ mục đích sử dụng đất là “Đầu tư dự án khu phức hợp dịch vụ cao tầng (theo đơn giá đất ở)” với thời hạn “sử dụng lâu dài”.

Ngày 07-6-2012, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẳng có văn bản số 4060/UBND-KTTA xác nhận Cty TNHH Tập đòan Thiên Thanh đã hòan thành các nghĩa vụ tài chính, nhằm tạo điều kiện cho Cty TNHH Tập đòan Thiên Thanh triển khai thực hiện đầu tư phát triển dự án khu phức hợp thương mại dịch vụ cao tầng tại khu vực Sân vận động Chi Lăng.

Chứng thư thẩm định giá ngày 24-12-2012 của DATC Bộ tài chính ghi rõ:

-Tài sản thẩm định giá: Giá trị quyền sử dụng đất Dự án khu phức hợp Dịch vụ cao tầng tại khu vực Sân vận động Chi Lăng, Hải Châu II, quận Hải Châu, TP. Đà Nẳng.

-Mục đích thẩm định giá: Làm cơ sở tham khảo cho mục đích thế chấp vay vốn ngân hàng góp vốn liên doanh.

-Cơ sở thẩm định giá: Giá thị trường

-Kết quả thẩm định giá: Trên cơ sở hồ sơ, tài liệu do Cty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh cung cấp; qua khảo sát thực tế hiện trạng của bất động sản, tham khảo đơn giá xây dựng, giá bán căn hộ chung cư trên thị trường. Sử dụng các phương pháp thẩm định giá trong tính toán; Cty cổ phần tư vấn-Dịch vụ về tài sản-Bất động sản DATC thông báo kết quả thẩm định giá như sau: Tổng giá trị quyền sử dụng đất của Dự án khu phức hợp Dịch vụ cao tầng tại khu vực sân vận động Chi Lăng, Hải Châu II, quận Hải Châu, TP. Đà Nẳng là: 10.414.687.000.000đồng.

-Kết quả thẩm định giá chỉ xác nhận khi người sử dụng đất các lô đất đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tài chính đất đai theo quy định của Nhà Nước và thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng toàn bộ dự án.

-Kết quả thẩm định giá được sử dụng làm cơ sở tham khảo cho mục đích thế chấp vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn liên doanh. Không sử dụng kết quả thẩm định giá cho mục đích khác.

Công ty DATC-Bộ Tài Chính là 1 tổ chức có chức năng và uy tín trong tư vấn thẩm định giá. Nội dung chứng thư thẩm định giá hoàn toàn phù hợp quy định tại Điều 112 Luật Đất đai về mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, giá đất thị trường và mục đ&ia

Chia sẻ:
Bài viết khác:
Go Top
Zalo